GS.TS. Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh chuyển đổi chăn nuôi bền vững cần gắn với đổi mới khoa học, công nghệ, bảo vệ môi trường, phúc lợi động vật, tăng cường hợp tác quốc tế.

Tại Hội nghị Khoa học Chăn nuôi của Hiệp hội Chăn nuôi châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 21 (AAAP21), tổ chức tại Hà Nội với chủ đề “Chuyển đổi chăn nuôi vì một tương lai bền vững”, GS.TS. Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đại biểu Quốc hội khóa XIII, XIV và XV, nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững, có trách nhiệm và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Lan, AAAP21 không chỉ là diễn đàn chia sẻ kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ trong lĩnh vực chăn nuôi, thú y, mà còn là cơ hội để các quốc gia trong khu vực cùng nhìn nhận những thách thức, xác định ưu tiên chiến lược và thúc đẩy hợp tác thực chất.

leftcenterrightdel
 GS.TS. Nguyễn Thị Lan cho rằng, phát triển chăn nuôi bền vững không chỉ là nâng cao năng suất, mà còn đòi hỏi đổi mới tư duy, bảo đảm sức khỏe và phúc lợi động vật, bảo vệ môi trường và tăng cường hợp tác trong toàn chuỗi giá trị. Ảnh: Gia Huy. 

Chuyển đổi tư duy để phát triển chăn nuôi bền vững

Chăn nuôi giữ vai trò thiết yếu đối với an ninh lương thực, cung cấp thực phẩm, tạo sinh kế cho người dân nông thôn, đóng góp vào phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi đang phải đối mặt với nhiều thách thức đan xen, từ biến đổi khí hậu, sức ép lên tài nguyên, suy thoái môi trường đến dịch bệnh động vật, nguy cơ kháng kháng sinh và những biến động của thị trường.

Cùng với đó, yêu cầu của xã hội về chất lượng sản phẩm, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phúc lợi động vật ngày càng cao. Những vấn đề này không thể được giải quyết chỉ bằng các tiến bộ khoa học, công nghệ riêng lẻ hay nỗ lực của một quốc gia, mà cần cách tiếp cận tổng thể, sự phối hợp đa ngành và hành động chung ở cấp khu vực cũng như toàn cầu.

Từ thực tế đó, GS.TS. Nguyễn Thị Lan đặt ra yêu cầu làm thế nào để ngành chăn nuôi vừa tạo ra giá trị kinh tế, nâng cao chất lượng sống của con người, vừa bảo vệ sức khỏe và phúc lợi động vật, đồng thời gìn giữ hệ sinh thái cho các thế hệ tương lai.

leftcenterrightdel
Hội nghị Khoa học Chăn nuôi của Hiệp hội Chăn nuôi châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 21 (AAAP21), tổ chức tại Hà Nội với chủ đề “Chuyển đổi chăn nuôi vì một tương lai bền vững”, các đại biểu tập trung nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình phát triển chăn nuôi theo hướng bền vững, có trách nhiệm và thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh: Gia Huy.  

Theo bà, chuyển đổi chăn nuôi bền vững trước hết phải bắt đầu từ chuyển đổi tư duy phát triển: từ chú trọng sản lượng sang hiệu quả và giá trị; từ các giải pháp riêng lẻ sang quản trị đồng bộ toàn chuỗi; từ xử lý hệ quả sang chủ động phòng ngừa rủi ro; từ đổi mới trong phòng thí nghiệm sang những ứng dụng mang lại lợi ích thiết thực cho người chăn nuôi và xã hội.

Tinh thần cốt lõi của chăn nuôi bền vững được thể hiện qua ba mục tiêu: vì con người, vì động vật và vì môi trường. Để hiện thực hóa các mục tiêu này, cần củng cố đồng thời bốn trụ cột.

Trong đó, trụ cột kinh tế hướng đến tạo ra giá trị, nâng cao năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, giúp doanh nghiệp chăn nuôi có lợi nhuận và phát triển lâu dài. Trụ cột xã hội đề cao tính công bằng, bao trùm, bảo đảm chuỗi giá trị có cơ hội tiếp cận kiến thức, dịch vụ, nguồn lực và thị trường.

Trụ cột môi trường tập trung vào sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải, tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý môi trường có trách nhiệm. Trong khi đó, trụ cột động vật đặt trọng tâm vào sức khỏe, phúc lợi động vật, bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng có trách nhiệm các nguồn gen vật nuôi.

Bốn trụ cột này có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Thiếu một trong số đó, sự phát triển của ngành chăn nuôi sẽ khó bảo đảm tính bền vững.

Năm định hướng ưu tiên cho ngành chăn nuôi

Từ những yêu cầu đặt ra, GS.TS. Nguyễn Thị Lan gợi mở năm định hướng ưu tiên để các nhà khoa học, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người chăn nuôi cùng trao đổi, tìm kiếm giải pháp tại hội nghị.

leftcenterrightdel
 GS.TS. Nguyễn Thị Lan cùng các đại biểu của Học viện Nông nghiệp Việt Nam tham dự Hội nghị. Ảnh: Gia Huy. 

Thứ nhất, lấy khoa học về giống, dinh dưỡng và nguồn lực bản địa làm nền tảng nâng cao chất lượng tăng trưởng. Theo đó, cần bảo tồn và sử dụng bền vững các giống vật nuôi bản địa, các nguồn gen thích nghi với điều kiện địa phương; đồng thời ứng dụng những tiến bộ chọn giống dựa trên bằng chứng khoa học để cải thiện năng suất, chất lượng, sức khỏe và khả năng chống chịu.

Cùng với công tác giống, việc phát triển nguồn thức ăn bền vững, khai thác hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp, sinh khối, nguyên liệu tại chỗ và ứng dụng các giải pháp nuôi dưỡng tiên tiến cũng có ý nghĩa quan trọng. Những tiến bộ về giống và thức ăn cần được đánh giá không chỉ qua năng suất mà còn qua hiệu quả sử dụng tài nguyên và tác động đến môi trường.

Thứ hai, gắn sức khỏe và phúc lợi động vật với sức khỏe con người và môi trường. Tiếp cận Một sức khỏe (One Health) đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa lĩnh vực chăn nuôi, thú y, y tế cộng đồng và khoa học môi trường. Từ an toàn sinh học, giám sát và phòng chống dịch bệnh đến sử dụng kháng sinh có trách nhiệm, kiểm soát kháng kháng sinh và bảo đảm an toàn thực phẩm, các giải pháp cần được triển khai theo hướng liên ngành, chủ động phòng ngừa rủi ro.

Phúc lợi động vật cũng cần được xem xét xuyên suốt quá trình sản xuất, từ chọn giống, nuôi dưỡng đến vận chuyển và giết mổ, thay vì chỉ tập trung ở một công đoạn riêng lẻ.

Thứ ba, thúc đẩy chăn nuôi phát thải thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển theo hướng tuần hoàn. Quản lý chất thải cần chuyển từ tư duy xử lý sang thu hồi và tái sử dụng tài nguyên. Những giải pháp như tuần hoàn dinh dưỡng, tạo năng lượng sinh học, kết hợp hợp lý giữa trồng trọt và chăn nuôi, sử dụng hiệu quả đất, nước và các nguồn lực cần được quan tâm.

Cùng với đó, giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế tổn thất tài nguyên và nâng cao khả năng chống chịu trước biến động khí hậu phải trở thành những mục tiêu cụ thể trong ứng dụng công nghệ, tổ chức sản xuất và quản trị trang trại.

Thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên toàn chuỗi giá trị. Công nghệ số, tự động hóa, quản lý dựa trên dữ liệu, hệ thống chăn nuôi thông minh và truy xuất nguồn gốc chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi giúp cải thiện quyết định sản xuất, giảm chi phí, kiểm soát rủi ro và củng cố niềm tin của người tiêu dùng.

Việc xây dựng các chuỗi giá trị minh bạch, có trách nhiệm, gắn kết người sản xuất với hoạt động chế biến, phân phối và thị trường cũng là yêu cầu quan trọng. Đặc biệt, công nghệ phải có khả năng tiếp cận và được ứng dụng trong thực tiễn, không trở thành lợi thế chỉ dành cho những doanh nghiệp có nguồn lực lớn.

Thứ năm, coi con người, thể chế và hợp tác là điều kiện quyết định của chuyển đổi. Hộ chăn nuôi quy mô nhỏ, hợp tác xã, phụ nữ, thanh niên và các cộng đồng nông thôn cần có cơ hội công bằng trong tiếp cận tri thức, công nghệ, tài chính, dịch vụ thú y và thị trường.

Các chính sách hỗ trợ, cơ chế đầu tư và hệ thống quản trị cần tạo động lực để doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và người chăn nuôi cùng tham gia vào quá trình chuyển đổi. Hợp tác khu vực và quốc tế cũng cần vượt ra ngoài hoạt động trao đổi kinh nghiệm, hướng đến các chương trình nghiên cứu chung, chia sẻ dữ liệu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và nhân rộng những mô hình đã được kiểm chứng.

Đưa tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Lan, năm định hướng trên có mối liên hệ chặt chẽ và bổ trợ lẫn nhau. Không thể phát triển chăn nuôi phát thải thấp nếu thiếu đổi mới công nghệ về giống, thức ăn và quản lý chất thải; không thể bảo đảm sản phẩm an toàn nếu thiếu kiểm soát dịch bệnh và truy xuất nguồn gốc; cũng không thể chuyển đổi thành công nếu người chăn nuôi quy mô nhỏ bị bỏ lại phía sau.

leftcenterrightdel
GS.TS. Nguyễn Thị Lan phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Gia Huy.  

Vì vậy, hiệu quả của quá trình chuyển đổi không chỉ được đo bằng số lượng công nghệ được công bố, mà còn thể hiện qua số mô hình được ứng dụng, mức độ cải thiện sinh kế, hiệu quả sử dụng tài nguyên và niềm tin của xã hội đối với ngành chăn nuôi.

Từ các báo cáo khoa học và những cuộc trao đổi tại AAAP21, bà kỳ vọng các đại biểu cùng tìm lời giải cho ba vấn đề trọng tâm: lựa chọn công nghệ và mô hình ưu tiên để đồng thời nâng cao năng suất, bảo đảm an toàn sinh học và bảo vệ môi trường; đưa tiến bộ khoa học đến với hộ chăn nuôi, hợp tác xã và doanh nghiệp trong những điều kiện phát triển khác nhau; xây dựng cơ chế hợp tác, đầu tư và chia sẻ tri thức để chuyển các cam kết thành kết quả có thể đo lường.

Với định hướng đó, Học viện Nông nghiệp Việt Nam mong muốn tiếp tục đồng hành cùng các đối tác trong khu vực, tăng cường kết nối nghiên cứu với đào tạo, đổi mới sáng tạo với sản xuất, chuyển giao công nghệ với nhu cầu thực tiễn. Sự hợp tác liên ngành, liên cơ sở và xuyên biên giới được kỳ vọng sẽ góp phần rút ngắn khoảng cách từ tri thức khoa học đến những tác động thiết thực đối với xã hội.

Hội nghị Khoa học Chăn nuôi của Hiệp hội Chăn nuôi châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 21 được kỳ vọng góp phần hình thành sự đồng thuận khoa học, thúc đẩy các quan hệ đối tác thực chất và chuyển hóa những khuyến nghị thành chương trình, dự án, giải pháp cụ thể.

Thông điệp được GS.TS. Nguyễn Thị Lan nhấn mạnh là tương lai của ngành chăn nuôi phải được kiến tạo bằng trách nhiệm chung và hành động chung. Chỉ khi kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, sức khỏe và phúc lợi động vật, ngành chăn nuôi mới có thể hướng tới một tương lai an toàn, xanh, bao trùm, thích ứng và thịnh vượng, vì con người, động vật và môi trường.

Khương Trung

https://nongnghiepmoitruong.vn/